Quảng bá dân chủ

From democracy-handbook.org
Jump to: navigation, search
Democracy-handbook proof.png

Khát vọng tự do là bản chất trong mỗi con người, và con người trong mọi nền văn hóa đều có thể xây dựng một nền dân chủ. Nhưng để có thể đạt tới thành công thì cần phải có những điều kiện tiên quyết cũng như phải vượt qua mọi trở ngại tất yếu.

Nghi ngờ khả năng thực thi dân chủ của ”kẻ khác”

Qua kinh nghiệm xây dựng dân chủ, đã có nhiều người tham gia tranh luận đặt vấn đề về 1 số người hoàn toàn không thích nghi với chủ nghĩa dân chủ. Họ đã tự cho rằng nền văn hóa của mình là dân chủ vượt bực hơn hẳn các nền văn hóa khác thay vì nhìn nhận rằng tự do và dân chủ là biểu tượng chung cho nhân loại.

Đã có thời dân Đức đã bị Hoa kỳ và các nước khác ở Âu châu cho là bẩm sinh không thích nghi với dân chủ, tiếp đến là Nhật bản. Hiện nay chắc chắn lại đến phiên Hồi giáo lại bị phương Tây cho là không thích hợp với nền dân chủ. Ngộ nghĩnh nhất đó lại là những lời phát biểu từ các linh mục và các tranh luận viên của Ki-tô giáo.

Thời gian đã cho thấy Đức là những người dân chủ tuyệt vời, kể cả Nhật bản. Trong cả 2 quốc gia này đều có những lực lượng chống đối chế độ dân chủ nhưng các quốc gia dân chủ khác cũng không ngoại lệ. Vì thế không có cái gì gọi là bản sắc dân tộc Đức hay Nhật cản trở tiến trình dân chủ hóa, đồng thời cả 2 nền văn hóa độc đáo của Đức và Nhật đều không bị chôn vùi hoặc bị thương tổn bởi chế độ dân chủ. Ngược lại cả 2 đều đơm bông kết trái hơn bao giờ hết. Vậy tai sao lại khác hơn ở Ả rập, Ba tư, A phú hãn hoặc ở các nước Hồi giáo khác? Hoặc ở nền văn hóa Nga, Trung quốc hay Phi châu?

Thổ nhĩ kỳ vẫn vừa là Thổ nhĩ kỳ, vừa là Hồi giáo, đồng thời cũng là 1 nước dân chủ. Những căn bệnh ấu thời của chế độ dân chủ ở Thổ nhĩ kỳ cũng không khác hơn căn bệnh dân chủ ấu thời ở Đức, Tây ban nha, Bồ đào nha, Hy lạp và Ý, chỉ là 30 đến 60 năm trễ hơn thôi.

Còn thí dụ nữa là chẳng ai trong châu Âu tin rằng người Nga có khả năng xây dựng chế độ dân chủ. Bây giờ chẳng ai lập lại lập luận rằng bản sắc dân tộc Nga sẽ cản trở nền dân chủ hoặc đổ lỗi cho Chính thống giáo Nga trên thực tế đã liên tục phá hoại tiến trình dân chủ, thay vì nhìn nhận đó là 1 biểu hiện của hoàn cảnh kinh tế và chính trị khi tiến trình dân chủ bị thất bại.

Điều đó cũng xảy ra ở các nơi khác khi mà tự do, công bằng và dân chủ chưa đủ sức để vượt qua: khi bị thế lực khác cản trở trong quá trình tranh giành quyền lực. Họ có thể dùng chứng cứ lịch sử hoặc tôn giáo hoặc lý thuyết về những âm mưu đen tối để lấy cớ cho sự thất bại nhưng không thể kết luận là do bản sắc dân tộc là bẩm sinh có tinh thần dân chủ hoặc có khát vọng tự do nhiều hơn dân tộc khác. Khát vọng đòi hỏi tự do tồn tại trong mỗi con người và tinh thần dân chủ có thể đánh thức trong bất kỳ mọi nền văn hóa nào.

Làm thế nào để quảng bá dân chủ?

Cụ thể làm thế nào để quảng bá tinh thần dân chủ, tự do và công bằng? Dùng quyền lực vũ khí thật không hữu hiệu mà phải không?

Đức và Nhật là những thí dụ rất điển hình.

Đức đã từng có một truyền thống dân chủ mong manh trước khi tiến trình dân chủ hóa bị dập tắt dưới đệ nhị thế chiến. Trước đó cũng tìm thấy một truyền thống tri thức, người dân có dân trí cao, một hệ thống giáo dục và hành chánh mà phe chiến thắng của đồng minh đã dùng làm nền tảng để xây dựng tiếp lên lại sau chiến tranh. Đã có hàng loạt viện xã hội học đã có thể tiếp tục, đồng thời Đức đã là một phần của mối liên hệ văn hóa của lực lượng đồng minh, đặc biệt là Hoa kỳ đã rất chú ý đến chuyện tránh lập lại lỗi lầm trong hiệp ước Versailles, khi Đức bị coi là con vật tế thần của cả châu Âu. Ngoài ra Hoa kỳ đã cung cấp cho châu Âu đã từng bị tàn phá vì bom đạn nguồn viện trợ Marshall với hy vọng rằng sự phục hồi ở châu Âu sẽ mang lại lợi ích cho cả châu Âu lẫn Hoa kỳ.

Nền dân chủ của Đức được xây dựng đồng thời với sự phát triển của nền kinh tế và xảy ra không phải với sự kết liễu của nền trật tự xã hội và văn hóa hiện hữu của Đức.

Xã hội Nhật bản cũng đã trãi qua một cuộc canh tân và kỹ nghệ hóa toàn diện vào cuối thế kỹ 19, nhưng dưới chế độ quân chủ độc tài và sự dẫn dắt của 1 thiên hoàng hoàng đế. Trên thực tế thì hoàng đế không có thực quyền. Khi Nhật bản đầu hàng sau khi bị dội bom ở Hiroshima và Nagasaki, Nhật hoàng đã lên tiếng nói với dân chúng trên radio, đấy là lần đầu tiên dân Nhật được nghe tiếng nói của Nhật hoàng.

Hoa kỳ là lực lượng đồng minh duy nhất chiếm đóng Nhật bản và đã bắt tay vào việc soạn thảo ra hiến pháp, tương tự như đã làm ở Đức. Nhưng họ vẫn để Nhật hoàng tại vị vì không muốn đã kích và làm người Nhật đem lòng thù địch đối với tiến trình dân chủ hóa. Ngoại trừ truyền thống hành chánh và một phần hạ tầng cơ sở được giữ lại, toàn bộ hệ thống được đổi hướng và cưỡng bách theo thể chế dân chủ. Chính quyền cũng được thay thế toàn bộ nhưng xây dựng trên nền tảng văn hóa và truyền thống hành chánh hiện hữu. Nhìn vào kinh tế và công nghệ thì Nhật bản đã hiện đại và vận hành ổn định nên dù Hoa kỳ không cần đổ nhiều tiền viện trợ như ở châu Âu thì xã hội Nhật vẫn tiến bộ vượt bực và mang cho họ lòng tin tưởng vào chính quyền mới.

Nền dân chủ ở cả hai nơi này đều do lực lượng chiếm đóng du nhập và áp đặt vào. Nhưng nhờ vào sự tăng trưởng của kinh tế và một điều - cũng rất quan trọng - là xã hội được xây dựng trên nền tảng của hệ thống hành chánh hiện hữu, và cả 2 chính quyền cũ được thay thế đó, đều không phải đã được thành lập hay nhận sự giúp đở của lực lượng chiếm đóng. Ngược lại, đó chính là điều mà Hoa kỳ đã làm trước khi chiếm đóng Irak và Afghanistan.

Công nghiệp hóa

Công nghiệp hóa không phải là không quan trọng cho thể chế dân chủ. Công nghiệp hóa không tự động mang theo sự dân chủ hóa, như ở Liên xô, Trung quốc, Đệ tam thế giới (Đức quốc xã) và Nhật bản ở thế kỹ 19 là những thí dụ điển hình, nhưng một nền dân chủ vững bền thì không thể thiếu tiến trình công nghiệp hóa.

Một tiến trình công nghiệp hóa có tầm ảnh hưởng vào xã hội khiến người dân đã phải rời khỏi nơi ở vốn có để đến định cư lân cận tại chỗ làm việc. Việc di dời này khiến cho cơ cấu quyền lực vốn có mất đi sự hữu hiệu và pháp lý. Thay vào đó là sự gặp gỡ giữa những người mới, và bắt đầu quá trình tập hợp thành một cơ cấu quyền lực mới. Ngoài ra người ta còn trao đổi những tư duy và kinh nghiệm cần có trong quá trình thích nghi. Công nghiệp hóa đồng thời cũng có nghĩa là kinh tế sẽ thay đổi.

Màu sắc chính trị truyền thống ở Tây phương trong một nền kinh tế công nghiệp thường được bắt đầu giữa hai cánh, một bên là của giới làm công và bên còn lại là giới đầu tư hay là giới chủ nhân. Vào thời điểm mà tiến trình công nghiệp hóa Tây phương được thực hiện thì cả giới làm công lẫn những người đầu tư đều lệ thuộc vào cùng một nguồn kinh tế. Sự đầu tư với một cách nói khác đã mang lại cho kinh tế địa phương những điều tốt một khi có lợi nhuận. Bất kể là những quyền lực công nghiệp quyết định sử dụng thành quả lợi nhuận như thế nào thì số tiền đó cũng sẽ không bị chuyển ra khỏi nước, ra khỏi nền kinh tế nhưng vẫn được tiếp tục dồn vào guồng máy kinh tế để tái tạo sản xuất lần nữa. Khi nền dân chủ Tây phương được hình thành và khi nền dân chủ ở Đức và Nhật bản thành hình ở những thập niên 1940 thì cả nguồn vốn tư bản và sức lao động cùng với thành phần quần chúng tuyển chọn và được chọn đã đang tồn tại trong cùng một khu vực và cùng một nền kinh tế. Vì thế vấn đề chính trị được đặt ra ở đây là làm sao sử dụng nguồn tài chánh trong xã hội. Dân chủ là bao gồm một loạt những vấn đề về kinh tế và xã hội mà khởi điểm làm thế nào xã hội phân chia lợi nhuận do thành quả phần nhờ kẻ đầu tư, phần nhờ người lao động. Đó quả rất thiết thực là điều để đàm phán và bầu chọn.

Trong một nền kinh tế liên đới toàn cầu, khi nguồn tài chánh có thể thông thương xuyên biên giới quốc gia thì các điều kiện cũng hoàn toàn khác biệt.

Thiếu nền công nghiệp

Điều này chỉ xảy ra cho các quốc gia có nguồn dầu mỏ hoặc có nguồn tài nguyên khác mà có thể xuất cảng như nguyên vật liệu. Ở các quốc gia này thật không có nguyên nhân gì để thúc đẩy tiến hành công nghiệp hóa. Những kẻ đang ngồi nắm quyền lực, có thể kiếm được rất nhiều tiền để giữ quân sự và kinh tế cho quốc gia mình được vận hành mà không cần đến sự quan tâm của dân chúng. Điều này có giá trị đối với Nga, hầu hết các quốc gia ở vùng trung đông cũng như ở châu Phi.

Cũng cùng lý do đó mà đã xuất hiện một luồng tư tưởng chính trị nói rằng mức độ của nền dân chủ là tỷ lệ nghịch với số lượng dầu tìm được - mặc dù tất nhiên vẫn có thể không có dân chủ dù không có dầu mỏ.

Có một giải pháp khả dĩ cho vấn đề này nữa là tìm ra một nguồn năng lượng thực sự, trường tồn thay cho dầu mỏ. Điều này sẽ làm cho các lãnh tụ hiện nay ở các quốc gia có dầu mỏ sẽ trở nên lệ thuộc vào người dân đồng thời cũng giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường do dầu mỏ gây ra.

Có thể quảng bá nền dân chủ khắp toàn cầu?

Tất nhiên. Trong xã hội mới chỉ cần có điều thực tế khả thi thì có thể đưa ra biểu quyết, và nếu như người ta là một siêu cường và từng làm hậu thuẫn cho chính quyền cũ thì cần phải chiếm được nhân tâm trước khi xâm lấn bằng vũ lực. Nếu không chỉ là một sự sỉ nhục trước tầm hiểu biết của nhân loại. Ngoài ra người ta còn phải thúc đẩy được nền kinh tế cục bộ để người dân thực sự cảm thấy được ưu điểm của thể chế mới.

Những điều kiện cần có cho các chế độ dân chủ ở châu Âu là sự công nhận hỗ tương giữa các quốc gia về biên giới, sự phát triển kinh tế, giáo dục, một đại đa số dân số thuộc giai cấp trung lưu và tôn giáo không ảnh hưởng đến chính trị. Còn tiến trình dân chủ hóa của thế giới còn lại thì khó có lý do để tin là sẽ có thay đổi khác hơn. Một nền dân chủ mà mang lại cho người dân sự tự do và an toàn thì cần phải được chung quanh công nhận và thực sự có khả năng kinh tế để phát triển.


Chương kế tiếp: Ưu điểm của các nền văn minh